Điểm tin trong ngày
  • Màn chào hỏi của công đoàn sở nội vụ Tỉnh Sơn La
  • Dấu ấn tình nguyện hè xanh
1 
Lượt xem: 219

Chi bộ II tổ chức sinh hoạt định kỳ tháng 7/2022

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, Chi bộ II Đảng bộ Sở Nội vụ đã tổ chức sinh hoạt định kỳ. Tại buổi sinh hoạt, đồng chí Trần Bình Minh đã phát biểu quán triệt một số nội dung các văn bản, trong đó tập trung nhấn mạnh các nội dung của Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, về một số điểm mới của quy định này. 

Đồng chí Trần Bình Minh - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Sở Nội vụ phát biểu tại buổi sinh hoạt

Có một số điểm mới đáng chú ý của Quy định số 69 cụ thể như sau:

Thứ nhất: Gộp chung quy định về kỷ luật Đảng và kỷ luật tổ chức Đảng

Trước đây, quy định về kỷ luật Đảng viên và kỷ luật tổ chức Đảng được nêu tại hai văn bản khác nhau: Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về kỷ luật Đảng viên và Quy định 07-QĐi/TW ngày 28/8/2018 về kỷ luật tổ chức Đảng.

Tuy nhiên, đến Quy định 69 về kỷ luật Đảng này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã gộp cả quy định về kỷ luật Đảng viên và kỷ luật tổ chức Đảng vào cùng một văn bản. Theo đó, hình thức kỷ luật Đảng viên và tổ chức Đảng được nêu tại Điều 7 Quy định 69 gồm:

- Tổ chức Đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

- Đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức nếu Đảng viên chính thức có chức vụ, khai trừ.

- Đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.

Thứ hai: Bổ sung một số định nghĩa trong xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm

Cụ thể, Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 đã bổ sung một số định nghĩa sau:

- Chức vụ trong Đảng: Là chức vụ của đảng viên được bầu cử; được cấp có thẩm quyền chỉ định, bổ nhiệm, chuẩn y hoặc các chức danh kiêm nhiệm khác theo quy định của Đảng.

- Chạy chức, chạy quyền: Là các hành vi tặng quà, tiền, bất động sản hoặc các lợi ích vật chất khác, dùng tình cảm nam nữ không trong sáng nhằm mua chuộc, tạo sự ủng hộ của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người liên quan để có được vị trí, chức vụ, quyền lợi cho mình hoặc người khác.

- Thờ ơ, vô cảm: Là thái độ bàng quan, vô trách nhiệm trước các hành vi sai trái trong cơ quan, đơn vị và xã hội.

Thứ ba: Thay đổi về xử lý kỷ luật Đảng viên sinh con thứ 3, thứ 4, thứ 5

Trước đây, theo Điều 27 Quy định 102-QĐ/TW, việc kỷ luật Đảng viên vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình có nêu rõ hình thức kỷ luật với trường hợp Đảng viên sinh con thứ ba:

Sinh con thứ ba: Khiển trách.

Sinh con thứ tư: Cảnh cáo hoặc cách chức nếu Đảng viên đó có chức vụ.

Sinh con thứ năm trở lên: Khai trừ khỏi đảng.

Trong khi đó, việc sinh con thứ ba, thứ tư và thứ năm trở lên tại Quy định 69 về kỷ luật Đảng không còn được nêu cụ thể mà thay vào đó, Điều 52 chỉ nêu:

“Vi phạm chính sách dân số: Bị khiển trách.

Tái phạm việc vi phạm chính sách dân số: Cảnh cáo hoặc cách chức nếu Đảng viên đó có chức vụ.

Nếu vi phạm chính sách dân số gây ra hậu quả rất nghiêm trọng: Khai trừ.”

Vậy sinh con thứ ba, thứ tư, thứ năm có phải vi phạm chính sách dân số không? Theo Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003 sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Pháp lệnh năm 2008, mỗi cặp vợ chồng được sinh một hoặc hai con trừ các trường hợp đặc biệt.

Đồng thời, theo Điểm a khoản 3 Điều 17 Nghị định 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số:  “mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ thực hiện quy mô gia đình ít con - có một hoặc hai con, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.”

Có thể thấy, mặc dù hiện nay, pháp luật không quy định cụ thể trường hợp nào bị coi là vi phạm chính sách dân số nhưng các cặp vợ chồng có nghĩa vụ chỉ sinh từ một đến hai con trừ trường hợp pháp luật cho phép được sinh nhiều con.

Như vậy, mặc dù Quy định 69 không còn nêu cụ thể việc sinh con thứ ba, thứ tư, thứ năm nhưng nếu sinh con thứ ba trở lên không thuộc các trường hợp được phép thì Đảng viên vi phạm vẫn có thể bị xử lý kỷ luật.

Ảnh: Toàn cảnh buổi sinh hoạt Chi bộ

 Thứ tư: Bổ sung thêm các trường hợp chưa/không/miễn kỷ luật Đảng viên

- Trường hợp chưa xem xét kỷ luật

+ Đảng viên là nữ đang mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc là nam nhưng do vợ chết hoặc vì khách quan, bất khả kháng cũng đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

+ Bị bệnh nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện. Nhưng nếu người này có sức khoẻ ổn định (được ra viện) thì vẫn bị xem xét kỷ luật.

+ Đảng viên đã qua đời thì không kỷ luật trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Trường hợp chưa thi hành kỷ luật

Đảng viên bị tuyên bố mất tích: Vẫn xem xét, kết luận nhưng chưa xử lý. Khi phát hiện người này còn sống thì thi hành.

- Trường hợp miễn kỷ luật

+ Đảng viên thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo nhưng xảy ra thiệt hại và nguyên nhân để xảy ra thiệt hại là do khách quan, thực hiện đúng chủ trương, động cơ trong sáng, vì lợi ích chung.

+ Do chấp hành quyết định sai trái của cấp trên hoặc bị ép buộc nhưng đã chủ động, kịp thời báo bằng văn bản về ý kiến, đề xuất của mình trước khi thực hiện.

Như vậy, so với quy định cũ, Quy định 69 về kỷ luật Đảng đã bổ sung và nêu cụ thể các trường hợp được miễn hoặc hoãn kỷ luật, chưa thi hành kỷ luật.

Thứ năm: Bổ sung tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mức kỷ luật đối với đảng viên

- Các tình tiết giảm nhẹ mức kỷ luật đối với đảng viên bao gồm:

+ Chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức đảng, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát.

+ Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm.

+ Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm;

+ Tự giác nộp tài sản tham nhũng; (Nội dung mới bổ sung)

+ Tự giác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra.

+ Vi phạm khi thực hiện chủ trương hoặc thí điểm đổi mới, sáng tạo được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định, không thuộc trường hợp sau:

Đảng viên thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo Kết luận 14-KL/TW ngày 22/9/2021 được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhưng xảy ra thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá khách quan, toàn diện; nếu đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì miễn kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.

- Các tình tiết tăng nặng mức kỷ luật đối với đảng viên bao gồm:

+ Đã được tổ chức đảng yêu cầu kiểm điểm nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm.

+ Không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm;

+ Gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả hoặc khắc phục không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, không tự giác nộp lại tiền, tài sản do vi phạm mà có.

+ Đối phó, quanh co, cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

+ Bao che cho người vi phạm; đe dọa, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm.

+ Vi phạm có tổ chức, là người chủ mưu;

+ Cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm;

+ Che giấu, sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh thực hiện chính sách an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh để trục lợi. Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm. (Nội dung mới bổ sung)

+ Biết mà không ngăn chặn hoặc để cán bộ, đảng viên thuộc tổ chức mình trực tiếp quản lý xảy ra tham nhũng, tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng. (Nội dung mới bổ sung)

Thứ sáu: Bổ sung hành vi vi phạm cụ thể trong quản lý, sử dụng đất đai, nhà ở

- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

+ Thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định quản lý và sử dụng nhà ở; vi phạm quy định của pháp luật về quy hoạch, xây dựng công trình và quản lý nhà ở.

+ Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ tài chính, thủ tục, quy định, quyết định của Nhà nước về chuyển quyền sử dụng đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Thiếu trách nhiệm trong chấp hành quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở; trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (bổ sung thêm hành vi “thiếu trách nhiệm trong chấp hành quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở” so với trước đây).

- Trường hợp đã kỷ luật mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu đảng viên có chức vụ):

+ Làm trái quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, thay đổi mục đích và quyền sử dụng đất; thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Cản trở, chống lại hoặc kích động, xúi giục, ép buộc người khác chống lại quyết định đúng pháp luật của cơ quan, cấp có thẩm quyền về thu hồi đất, giao đất, thực hiện các dự án quốc gia và về giải phóng mặt bằng.

+ Vi phạm pháp luật về đất đai gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân, phải bồi thường mà không bồi thường theo quy định.

+ Có trách nhiệm nhưng không phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất thuộc phạm vị theo dõi hoặc phụ trách.

+ Làm trái quy định trong việc quản lý nhà, trụ sở làm việc của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội, nghề nghiệp, doanh trại đơn vị quân đội, công an hoặc trong sở hữu, xây dựng, sử dụng, sửa chữa nhà ở của tổ chức được giao quản lý.

+ Lấn chiếm đất công để trục lợi (hành vi mới bổ sung).

+ Thông đồng bên mua hoặc bên bán để kê khai giá chuyển nhượng bất động sản, quyền sử dụng đất nhằm trốn thuế, giảm thuế gây thất thoát thu ngân sách nhà nước (hành vi mới bổ sung).

- Trường hợp hành vi vi phạm thuộc những trường hợp trên mà gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

+ Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, huỷ hoại đất.

+ Giả mạo, gian lận giấy tờ, làm sai lệch hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở.

+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất trái quy định của pháp luật.

+ Vì lợi ích cục bộ mà ban hành văn bản hoặc chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế, thu hồi đất trái pháp luật.

Ngoài ra, nếu trước đây nếu đảng viên có hành vi “cấp phép khai thác tài nguyên, khoáng sản trái quy định của pháp luật” sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khai trừ do vi phạm quy định về đất đai, nhà ở mà không cần xét tới yếu tố hậu quả, thì nay theo quy định 69, đảng viên sẽ bị khai trừ khi hành vi cấp phép trái quy định gây hậu quả nghiêm trọng.

Quy định số 69-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm có hiệu lực thi hành từ ngày 06.7.2022, thay thế Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 quy định xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm và Quy định số 07-QĐi/TW ngày 28/8/2018  về xử lý kỷ luật tổ chức Đảng vi phạm hiện đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là cơ sở để đảng viên, các tổ chức đảng nghiên cứu, xem xét thực hiện đúng quy định. Việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Quy định 69 là cơ sở để đảng viên, các tổ chức đảng nhận thức được những hành vi trái quy định, trái pháp luật, nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức, hoạt động của cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng, thông qua hoạt động của đảng viên trong các tổ chức đảng mà phòng ngừa, cảnh báo sai phạm, góp phần khắc phục tình trạng đảng viên, tổ chức đảng vi phạm quy định bị xử lý kỷ luật góp phần xây dựng Chi bộ, Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

Tác giả: Lường Thúy An - Chuyên viên phòng XDCQ&CTTN

 













 Bản quyền thuộc Sở Nội vụ tỉnh Sơn La.

Địa chỉ: Tầng 4, tòa nhà 9 tầng - Khu Trụ sở HĐND - UBND - UBMTTQVN tỉnh và một số Sở, ban, ngành của tỉnh. Phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La
Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Nguyễn Minh Hòa - Giám đốc Sở


ĐT: Văn phòng sở (0212).3752.630 - Phòng CCHC (0212).3751.890 FAX: (0212).3855.743 
E-mail: snv@sonla.gov.vn - Website:http://sonoivu.sonla.gov.vn
Được thiết lập theo Giấy phép hoạt động trang thông tin điện tử tổng hợp số: 06/GP-TTĐT ngày 19/6/2019 của Sở Thông tin và Truyền thông.
 Chung nhan Tin Nhiem Mang